Tin tổng hợp

Chất trữ tình trong văn học là gì

Bộ giáo dục và đào tạoTrờng đại học vinhThái thị thanh huyềnChất trữ tình trong truyện ngắnnguyễn ngọc tluận văn thạc sĩ ngữ vănVinh – 20091Bộ giáo dục và đào tạoTrờng đại học vinhThái thị thanh huyềnChất trữ tình trong truyện ngắnnguyễn ngọc tchuyên ngành: lý luận văn họcmã số: 60.22.32luận văn thạc sĩ ngữ vănVinh – 20092MỤC LỤCTrangMỞ ĐẦU ……………………………………………………………………………………….11. Lý do chọn đề tài ………………………………………………………………………….12. Lịch sử vấn đề ……………………………………………………………………………..23. Nhiệm vụ nghiên cứu ……………………………………………………………………64. Phạm vi nghiên cứu ………………………………………………………………………65. Phương pháp nghiên cứu ……………………………………………………………….76. Cấu trúc của luận văn ……………………………………………………………………7CHƯƠNG 1: GIỚI THUYẾT VỀ CHẤT TRỮ TÌNH TRONGTRUYỆN ………………………………………………………………………………………81.1. Quan niệm chung về chất trữ tình ……………………………………………….81.1.1. Chất trữ tình trong đời sống và trong nghệ thuật ………………………..81.1.2. Chất trữ tình trong văn học ………………………………………………………81.1.3. Quan niệm về chất trữ tình của luận văn ……………………………………101.2. Chất trữ tình và chất thơ ……………………………………………………………..101.2.1. Chất thơ …………………………………………………………………………………101.2.2. Phân biệt chất thơ và chất trữ tình ……………………………………………111.3. Từ chất trữ tình đến truyện ngắn trữ tình ………………………………………131.4. Đặc trưng của truyện ngắn trữ tình ………………………………………………141.4.1. Quan niệm chung về truyện ngắn trữ tình ………………………………….141.4.2. Đặc trưng của truyện ngắn trữ tình …………………………………………..16CHƯƠNG 2: CHẤT TRỮ TÌNH TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄNNGỌC TƯ, NHÌN TỪ TÌNH HUỐNG …………………………………………..202.1. Giới thuyết về tình huống ……………………………………………………………202.2. Tình huống trữ tình trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư ………………..212.2.1. Tình huống lưu lạc ………………………………………………………………….222.2.2. Tình huống bi kịch tình yêu ………………………………………………………322.2.3. Tình huống bi kịch gia đình ……………………………………………………..432.3. Ý nghĩa của tình huống trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư …………..482.3.1. Ý nghĩa của tình huống đối với diễn biến mạch truyện …………………482.3.2. Ý nghĩa của tình huống đối với việc thể hiện tư tưởng chủ đề tácphẩm ……………………………………………………………………………………………..543CHƯƠNG 3: CHẤT TRỮ TÌNH TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄNNGỌC TƯ, NHÌN TỪ NHÂN VẬT ………………………………………………..573.1. Giới thuyết về nhân vật ………………………………………………………………573.1.1. Khái niệm nhân vật …………………………………………………………………573.1.2. Vai trò của nhân vật ………………………………………………………………..573.1.3. Phân loại nhân vật trong truyện ngắn ……………………………………….583.2. Nhân vật “kiểu con người tình cảm” trong truyện ngắn NguyễnNgọc Tư ………………………………………………………………………………………….603.2.1. Con người cô đơn trên những chặng đường lưu lạc ……………………….633.2.2. Con người BUỒN – ĐAU khi dang dở tình yêu …………………………….703.2.3. Con người BUỒN – ĐAU với tình yêu thầm lặng …………………………..753.2.4. Con người BUỒN – ĐAU với nỗi mặc cảm tội lỗi ………………………….793.2.5. Con người BUỒN – ĐAU với bi kịch gia đình ……………………………….833.3. Các thủ pháp miêu tả, thể hiện nhân vật trong truyện ngắnNguyễn Ngọc Tư ………………………………………………………………………………883.3.1. Nghệ thuật miêu tả tâm lý …………………………………………………………..893.3.2. Các thủ pháp ngoại hiện …………………………………………………………….94CHƯƠNG 4: CHẤT TRỮ TÌNH TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄNNGỌC TƯ, NHÌN TỪ NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU ……………………..1034.1. Giới thuyết về ngôn ngữ và giọng điệu ……………………………………………1034.1.1. Ngôn ngữ ………………………………………………………………………………..1034.1.2. Giọng điệu ………………………………………………………………………………1044.2. Ngôn ngữ giàu chất thơ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư ……………….1064.2.1. Ngôn ngữ giàu cảm xúc, cảm giác ……………………………………………….1064.2.2. Ngôn ngữ hài hoà về âm thanh, giàu nhịp điệu ………………………………1104.2.3. Những hình ảnh biểu tượng ………………………………………………………..1154.3. Giọng điệu trữ tình trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư ……………………..1214.3.1. Giọng cảm thương, ngậm ngùi ……………………………………………………1214.3.2. Giọng tưng tửng, hóm hỉnh …………………………………………………………1274.3.3. Giọng trữ tình- triết lý ……………………………………………………………….131KẾT LUẬN …………………………………………………………………………………….136TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………………………………..1394MỞ ĐẦU1. Lí do chọn đề tài1.1. Sự giao thoa giữa các thể loại là một thực tế tồn tại từ xưa đến naytrong đời sống văn học. Đó là hiện tượng thể loại này “vay mượn” đặc điểm nàođó của thể loại kia để làm giàu thêm khả năng biểu đạt của mình. Điều đó chứngminh rằng trong sáng tác văn học, mọi ranh giới giữa các thể loại chỉ là tươngđối. Thể loại văn học luôn tồn tại ở dạng “mở”, nghĩa là nó luôn sẵn sàng mởrộng địa hạt đón nhận sự gia nhập của các yếu tố “ngoại lai”. Đây đó, chúng tavẫn thấy nhắc đến những khái niệm như: kịch thơ, truyện thơ, tiểu thuyết bằngthơ hoặc những vấn đề như yếu tố tự sự trong thơ, chất thơ của văn xuôi, chấttrữ tình trong truyện ngắn… Thậm chí, có những sáng tác có sự đan dệt của cảba yếu tố tự sự, trữ tình, kịch. Sự pha trộn giữa các thể loại như thế không chỉlàm gia tăng phẩm chất, giá trị của mỗi thể loại, tạo ra các “thể lai ghép”, màcòn giúp nhà văn thể hiện một cách tối ưu những ý đồ nghệ thuật của mình. Hơnthế, đó còn là một phương tiện góp phần làm nên diện mạo, phong cách của mộttác giả. Đây là một trong những biểu hiện của tính năng động, linh hoạt của thểloại văn học hiện đại. Nó là vấn đề mới mẻ, thu hút sự quan tâm của nhiều nhànghiên cứu.1.2. Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn trẻ nổi lên như một “hiện tượng lạ”, một“luồng gió mới” (Nguyên Ngọc) của văn xuôi Việt Nam đương đại. Từ tậpNgọn đèn không tắt khiêm nhường lặng lẽ, qua Cánh đồng bất tận khuấy độngvăn đàn, đến Gió lẻ và 9 câu chuyện khác nóng hổi mới ra mắt độc giả, tác phẩmcủa nhà văn nữ đất Mũi Cà Mau này được nhắc đến rất nhiều trên các báo, tạpchí, các phương tiện truyền thông; được thẩm định qua các giải thưởng trongnước và khu vực. Nguyễn Ngọc Tư tự so sánh sáng tác của mình với “quả sầuriêng”, và đã không ít lần “sản vật” đặc trưng của Nam Bộ ấy đã vượt địa hạtvùng miền, quốc gia, đến với độc giả khắp nơi, kể cả nước ngoài. Được đánh giácao trong giới chuyên môn, được nhiều nhà xuất bản săn đón, lọt vào tầm ngắmkhông ít nhà đạo diễn sân khấu, điện ảnh, tác phẩm của nữ văn sĩ này thực sự cóđược vị trí chắc chắn trong bức tranh văn học hiện nay… Nhiều người tìm đọcNguyễn Ngọc Tư vì họ đã “bắt được sóng” (Hữu Thỉnh) từ trái tim và tài năngcủa chị. Là một nhà văn nữ, Nguyễn Ngọc Tư đã mang vào trong văn của mình5cái đằm thắm của nữ tính làm nên chất giọng mềm mại, có duyên. Văn chươngcủa chị lôi cuốn người đọc bởi cái “trữ lượng tình cảm” hết sức dồi dào. Ấy làthứ văn như chắt ra từ thương yêu. Có thể nói rằng, chất trữ tình trong truyệncủa Nguyễn Ngọc Tư không chỉ là một “dư vị” khó quên mà còn báo hiệu mộtphong cách đang được định hình. Chính chất trữ tình đặc sắc đó đã gợi dẫnchúng tôi đến với đề tài nghiên cứu này.1.3. Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, đã có những lúc “văn xuôi mởcuộc xâm lăng tràn vào thơ”. Đó là thời kì khởi phát Thơ mới. Ngược lại, cũngcó những giai đoạn chất thơ xâm nhập vào văn xuôi tự sự, làm thành dòngtruyện ngắn trữ tình với nhiều phong cách nổi bật như Thạch Lam, Thanh Tịnh,Hồ Dzếnh… Tìm hiểu chất trữ tình trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, chúngtôi hi vọng sẽ góp phần nhận diện đặc điểm tác phẩm của một cây bút còn rấtsung sức, nhiều triển vọng; thấy được dòng truyện ngắn trữ tình không phải chỉdừng lại ở những đỉnh cao của văn học quá khứ, mà còn được tiếp nối ở các nhàvăn đương đại với nhiều sắc thái mới mẻ. Hơn nữa, việc nghiên cứu đề tài nàycòn mang một ý nghĩa thiết thực: giúp cho việc giảng dạy những tác phẩm vănxuôi mang đậm màu sắc trữ tình trong nhà trường được thấu đáo hơn.2. Lịch sử vấn đềKể từ khi xuất hiện trên văn đàn đến nay, Nguyễn Ngọc Tư đã khiến giớiphê bình tốn không ít giấy mực. Như trên đã nói, Nguyễn Ngọc Tư có lí khi sosánh truyện của mình với sầu riêng. Đó là loại quả không phải người nào cũngưa, nhưng nếu đã thích thì say mê thật sự, thậm chí nó còn “gây nghiện” chokhông ít người. Văn của nữ sĩ đất Cà Mau ấy cũng vậy, kẻ chê, người khen, vớinhững ý kiến trái chiều ở nhiều góc tiếp cận.Trong số hàng loạt bài phê bình trên báo, tạp chí cũng như trên các trangweb viết về Nguyễn Ngọc Tư và tác phẩm của chị, đây đó cũng có những ý kiến,cảm nhận về chất trữ tình, chất thơ trong các truyện ngắn riêng lẻ. Chúng tôi tậphợp ở đây những ý kiến liên quan đến đề tài, xem đó là những gợi mở hữu íchcho chúng tôi trong công việc nghiên cứu.Khi tập truyện đầu tay Ngọn đèn không tắt đoạt giải của Hội Liên hiệpvăn học nghệ thuật Việt Nam, cái tên Nguyễn Ngọc Tư bắt đầu được các nhàvăn lớp trước như Nguyễn Quang Sáng, Chu Lai, Nguyên Ngọc, Dạ Ngân… đểý. Trong lời tựa tập truyện này, Nguyễn Quang Sáng đã có nhận xét rất đáng chú6ý: “Với giọng văn mộc mạc bình dị, với ngôn ngữ đời thường, Nguyễn Ngọc Tưđã tạo nên một không khí rất tự nhiên về màu sắc, hương vị của mảnh đất cuốicùng của Tổ quốc (…). Qua ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư, những con người lamlũ, giản dị, bộc trực ấy chứa đựng bên trong cả một tâm hồn vừa nhân hậu, vừatinh tế qua cách đối nhân xử thế” [45]. Trong bài viết Nguyễn Ngọc Tư như thếnào, Dạ Ngân không ngần ngại bày tỏ sự trân trọng, yêu mến của mình đối vớimột cây bút thuộc thế hệ sau nhưng đã nhanh chóng chiếm cảm tình của một sốlượng lớn độc giả: “Đọc Nguyễn Ngọc Tư thấy vấn vương xao xuyến, muốn đọctới đọc lui, vì nó đánh thức nỗi nhớ quê trong lòng người xa xứ… Nguyễn NgọcTư làm ta ngạc nhiên, rất đỗi ngạc nhiên, vì đang lưng ta bỗng đầy, đang đi tabỗng gặp, đang chờ ta bỗng có…” [33]. Rõ ràng, các nhà văn đã gián tiếp chỉ rachất trữ tình đằm thắm nằm sâu bên trong lời văn, câu chữ của truyện ngắnNguyễn Ngọc Tư, nhưng chưa định danh bằng những khái niệm của lí luận vănhọc.Tuy nhiên, những cảm nhận về chất thơ, chất trữ tình của truyện ngắnNguyễn Ngọc Tư bắt đầu được hình dung một cách cụ thể hơn khi Cánh đồngbất tận ra mắt người đọc. Đào Duy Hiệp có cả một bài viết Chất thơ trong“Cánh đồng bất tận”. Ở đây, tác giả bài viết khẳng định: “Cánh đồng bất tận làmột bài thơ bằng văn xuôi. Chất thơ đó nằm trong sự lặp lại ở các cấp độ từ ngữ,hình ảnh thấm tình người, được diễn đạt bằng một giọng văn dung dị hiền lành”[19]. Theo tác giả, chất thơ của truyện ngắn này có được là nhờ những nỗi nhớtrùng điệp như lớp sóng cồn cào, nhờ những biểu tượng – ẩn dụ cánh đồng, dòngsông và những câu văn mang âm hưởng và cấu trúc thơ. Phải nói rằng, dù chỉ lànhững phát hiện ban đầu, theo trực cảm là chính, chưa có sự phân tích kĩ luỡngvề “cơ chế” hình thành chất trữ tình trên các phương diện cụ thể, nhưng bài viếtcủa Đào Duy Hiệp đã thể hiện một cách tiếp cận có nhiều sức gợi.Cũng nằm trong loạt bài tìm hiểu về Cánh đồng bất tận, bài viết của ĐoànÁnh Dương “Cánh đồng bất tận” nhìn từ mô hình tự sự và ngôn ngữ trần thuậtđã nhấn mạnh một số điểm mà theo chúng tôi, có ý nghĩa nhất định trong việc lígiải chất trữ tình của truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nói chung. Trước hết, tác giảbài viết cho rằng Cánh đồng bất tận là “một câu chuyện mở, một tác phẩm đượcdệt bởi sự đan cài giữa cảm xúc và suy tưởng của nhân vật… Lọc qua tâm línhân vật, hành trình khám phá tác phẩm là một sự bóc tách từ bình diện ngôn7ngữ trần thuật đến bình diện những tri nhận ẩn ức đã lắng đọng thành các biểutượng ám ảnh đời sống nội tâm nhân vật” [14]. Đoàn Ánh Duơng cũng đã có líkhi cho rằng kĩ thuật tự sự của Nguyễn Ngọc Tư trong Cánh đồng bất tận đã đẩysang bình diện mới, ở đó, nhân vật men theo sức hút của mạch tâm trạng, cốttruyện sự kiện bị phân rã, thay vào đó là một cốt truyện khác: cốt truyện tâm lí.Theo đó, ngôn ngữ tâm trạng cũng lấn lướt ngôn ngữ miêu tả. Ngôn ngữ của tácgiả chi phối nhiều yếu tố, kể cả ngôn ngữ nhân vật nên lời văn mang đậm màusắc chủ quan. Và người đọc cũng bị cuốn theo cái dòng chảy miên man của cảmxúc mà “quên bẵng” cốt truyện. Mặc dù phân tích khá sâu sắc mô hình tự sự vàngôn ngữ của Cánh đồng bất tận, nhưng tác giả vẫn chưa tiến đến việc khẳngđịnh đó là những yếu tố làm nên chất trữ tình – một biểu hiện rất độc đáo củavăn xuôi Nguyễn Ngọc Tư.Trần Hữu Dũng – một giáo sư kinh tế học ở Mĩ vì “mê” văn Nguyễn NgọcTư nên đã thiết kế một trang web riêng dành cho nữ văn sĩ này – nhận thấy “văncủa Nguyễn Ngọc Tư nghe như nhạc. Nhiều câu trong trẻo và buồn (nhưngkhông nghẹn ngào) như một bản vọng cổ hoài lang… Văn Nguyễn Ngọc Tư làvăn của lời nói. Cách ngắt câu của cô là cách ngắt của âm điệu. Cái tài củaNguyễn Ngọc Tư là đem những cảnh tượng rất bình thường, khoanh lại, biến nóthành châu báu” [11]. Trong bài báo Cảm hứng cảm thương trong sáng tác củaĐỗ Bích Thuý và Nguyễn Ngọc Tư đăng trên tạp chí Văn nghệ quân đội số 1năm 2007, Phạm Thuỳ Dương đã đi sâu vào khảo sát giọng điệu cảm thương ởtruyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, chỉ ra nguyên nhân và những biểu hiện cụ thể củanó. Tác giả viết: “Gắn với cảm hứng cảm thương là giọng điệu cảm thương, xótxa với những số phận con người nhỏ bé. Chỉ khi thực sự xúc động, trái tim đậpnhững nhịp đập chân thành, nồng nhiệt, người nghệ sĩ mới tạo được tiếng nói,giọng điệu có sức truyền cảm lớn” [13]. Có thể nói, trong những phương diệnbiểu hiện chất trữ tình trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, thì ngôn ngữ, giọngđiệu là yếu tố được người đọc cảm nhận nhiều nhất. Giáo sư kinh tế học TrầnHữu Dũng và tác giả Phạm Thuỳ Dương không phải là ngoại lệ. Có lẽ giọngđiệu trữ tình chính là một trong những nét đặc sắc nhất của văn phong NguyễnNgọc Tư.Một số bài viết khác đề cập đến thế giới nhân vật, tình huống của truyệnngắn Nguyễn Ngọc Tư. Trong bài viết Một số đặc sắc nghệ thuật của truyện8ngắn Nguyễn Ngọc Tư, Đàm Thị Thanh Tùng kết luận: “nhân vật của NguyễnNgọc Tư luôn rơi vào những tình cảnh éo le, trắc trở, những tình huống đổ vỡmà ở đó, họ chỉ có thể đối diện với chính lòng mình” [68]. Theo tác giả này,sáng tạo những tình huống trữ tình là chính là cách Nguyễn Ngọc Tư bộc lộ cáinhìn đầy chất nhân văn với con người. Cũng chính vì thế, Nguyễn Ngọc Tư đãtìm đến một giọng điệu đầy nữ tính, lời văn nghệ thuật trong truyện NguyễnNgọc Tư mang nặng cảm xúc trữ tình, thể hiện nỗ lực của nhà văn trong việc đisâu tìm hiểu thế giới tâm hồn ẩn chứa nhiều góc khuất của con người.Gió lẻ và 9 câu chuyện khác ra đời trong sự chờ đợi của nhiều người. Ấylà chờ đợi một sự bứt phá làm mới mình của Nguyễn Ngọc Tư. Người ta chỉ sợ,những cú dập không đáng có đầu đời có thể làm một nhà văn trẻ như Ngọc Tưnản lòng. Nhưng dường như Gió lẻ đã khiến cô tìm ra cách xoay chuyển tìnhthế: một kiểu viết khác, một cuộc tìm kiếm khác, để tạo nên phong cách đa dạnghơn và cũng nhiều triết lý hơn. Chính Nguyễn Ngọc Tư đã thú nhận về Gió lẻ:“Gió lẻ không thơ mộng lắm, nhưng tôi thấy nó cũng dịu dàng. Những nhân vậtcủa Gió lẻ chạy trốn con người nhưng luôn tìm kiếm con người, chối bỏ yêuthương mà luôn khao khát yêu thương, và dù đời có buồn đến đâu, họ vẫn cốgắng sống” [69]. Dù không gây ra một cơn sốt như Cánh đồng bất tận, nhưngGió lẻ vẫn được đánh giá khá cao, và cảm nhận chung của giới phê bình vẫn làgiọng điệu dịu dàng nữ tính, giàu cảm xúc như một nét phong cách không trộnlẫn vào đâu được của Nguyễn Ngọc Tư. Hồ Trung Tú trong bài viết giới thiệu vềGió lẻ ở Tạp chí Văn nghệ đồng bằng sông Cửu Long đã nhận xét: “Gió lẻ đượcviết với hình thức của một kịch bản phim. Với ngôn ngữ giàu hình ảnh, cấu trúcphân đoạn, chuyển cảnh mạnh này, truyện không cần giới thiệu dẫn dắt hay đưađẩy. Tất cả được cô đọng lại tinh tế như những bài thơ đứng cạnh nhau. Chính vìvậy không ai đọc thơ một lần” [63].Trên báo Lao động cuối tuần số 38 năm 2008, Minh Thi đã giới thiệu vềtác phẩm mới của Nguyễn Ngọc Tư: “Lối hành văn của Nguyễn Ngọc Tư trongGió lẻ phức tạp hơn nhiều so với Cánh đồng bất tận, đa nghĩa hơn, giàu chất thơhơn. Tuy nhiên, cũng vì thế mà đôi khi, cái chân chất bị bay đi ít nhiều, để lạichút cầu kỳ, làm dáng và một vài chi tiết hơi lộ. Nhưng trên tất cả là sự làm mớimình, ngòi bút vẫn đủ sức lay gợi, kỹ thuật viết cũng tốt hơn” [60]. Lê Anh Thu,người đã “săn đuổi sáng tác Nguyễn Ngọc Tư bằng chính tình yêu của mình”9cũng đã đọc nhiều hơn ba lần 50 trang truyện, bút giấy ghi chép trên tay và lêntiếng về Gió lẻ: “Nguyễn Ngọc Tư đã rất cố gắng chọn lọc câu chữ hợp điệu,thích vần. Truyện vì vậy đã rất gần với thơ văn xuôi” [63].Nhìn chung, xung quanh việc nghiên cứu chất trữ tình trong truyện ngắnNguyễn Ngọc Tư còn có một số vấn đề sau:Thứ nhất, tuy đã có những cảm nhận, phân tích, đánh giá về chất trữ tìnhtrong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, nhưng tất cả chỉ mới dừng lại ở mức độbước đầu và nhỏ lẻ. Chưa có một công trình nghiên cứu nào khảo sát toànngắnbộ truyệncủa nhà văn này ở phương diện chất trữ tình như một biểu hiện xuyên suốtvà ổn định.Thứ hai, khái niệm chất trữ tình trong truyện ngắn vốn đã được nhiều bàiviết nhắc đến, nhưng chưa được xem là khái niệm trung tâm và chưa được minhđịnh một cách rõ ràng. Trong một số công trình nghiên cứu, khái niệm “chấtthơ” đã được sử dụng. Đây là khái niệm có liên quan nhiều đến chất trữ tình.Nói rõ hơn, chất thơ là một biểu hiện của chất trữ tình, dù hai khái niệm nàykhông đồng nhất với nhau. Ở những bài viết cảm nhận, phân tích về chất thơtrong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, sự phân biệt chất thơ với chất trữ tình cũngchưa được chú ý đúng mức.Do tồn tại những vấn đề nêu trên, việc nghiên cứu chất trữ tình trongtruyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư vẫn là điều cần thiết. Công trình của chúng tôiđược triển khai trong bối cảnh ấy.3. Nhiệm vụ nghiên cứu3.1. Giới thuyết về khái niệm chất trữ tình trong truyện ngắn làm cơ sở líthuyết để tiến hành triển khai tìm hiểu chất trữ tình trong truyện ngắn NguyễnNgọc Tư.3.2. Phát hiện, nghiên cứu về những biểu hiện của chất trữ tình ở cácphương diện then chốt nhất đối với thể truyện ngắn: tình huống, nhân vật, ngônngữ (giọng điệu và lời văn).4. Phạm vi nghiên cứuTừ năm 2000 đến 2008, Nguyễn Ngọc Tư liên tiếp cho ra đời 7 tập truyệnngắn. Với đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu như trên, chúng tôi tiến hành khảosát tất cả truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư trong các tập sau: Ngọn đèn không tắt,Giao thừa, Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, Cánh đồng bất tận, Gió lẻ và 9 câuchuyện khác. Đây là 5 tập truyện tuyển chọn những tác phẩm hay nhất và mới10nhất của Nguyễn Ngọc Tư. Tổng số truyện chúng tôi khảo sát là hơn 50 tácphẩm.5. Phương pháp nghiên cứuĐể thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu sau đây- Phương pháp thống kê phân loại- Phương pháp phân tích- Phương pháp so sánh- Phương pháp hệ thống6. Cấu trúc của luận vănNgoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn triển khaithành 4 chương:Chương 1: Giới thuyết về chất trữ tình trong truyệnChương 2: Chất trữ tình trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, nhìn từtình huốngChương 3: Chất trữ tình trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, nhìn từnhân vậtChương 4: Chất trữ tình trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, nhìn từngôn ngữ và giọng điệu.11Chương 1GIỚI THUYẾT VỀ CHẤT TRỮ TÌNH TRONG TRUYỆN1.1. Quan niệm chung về chất trữ tình1.1.1. Chất trữ tình trong đời sống và nghệ thuậtTrong cuộc sống, chất trữ tình là một khái niệm được nhắc đến khá phổbiến ở nhiều lĩnh vực. Đây đó, chúng ta từng bắt gặp những cách nói như: bảnnhạc trữ tình, khung cảnh trữ tình, vẻ đẹp trữ tình, áng tóc trữ tình, dòng sôngtrữ tình… Có thể thấy, ở những trường hợp trên, “trữ tình” được dùng với tưcách là một định ngữ, chỉ một sắc thái, một tính chất. Vậy có thể hiểu nội hàmcủa hai chữ trữ tình này như thế nào? Muốn hiểu điều này, có lẽ chúng ta phải đitìm nguồn gốc của nó.Tính từ trữ tình trong tiếng Việt được dịch từ lyric/lyrical của tiếng Anh vàmột số ngôn ngữ châu Âu. Còn danh từ “tính chất trữ tình” là lyricalness xuấtxứ từ lyre là tên một loại nhạc cụ dây mà các nhà thơ và ca sĩ hát rong ở ChâuÂu thời xa xưa dùng để đệm cho các chuyện kể, bài hát, hay sử thi của họ.Những chuyện kể ấy người ta gọi là lyricist, nó không chỉ có các sắc thái nhẹnhàng, êm ái, du dương, tha thiết mà còn có cả hùng tráng, dữ dội, đau khổ, phẫnnộ…Trữ tình trong tiếng Việt lại là một từ gốc Hán. Theo nghĩa Hán tự, trữ làkéo ra, rút ra, bộc lộ, bộc bạch; tình là cảm xúc, tình cảm (tình cảm nói chung,không giới hạn hay loại trừ sắc thái nào). Tuy nhiên, nguời Việt hiện tại thườngdùng từ gốc Hán trữ tình trong chất trữ tình như một tính từ chỉ sắc thái nhẹnhàng, tha thiết… (trong âm nhạc), và sắc thái mềm mại, dịu dàng, nên thơ, hiềnhoà, gợi cảm, mơ mộng… (trong hội hoạ và trong miêu tả các sự vật khác)Tóm lại, chất trữ tình trong đời sống thường được quan niệm như một sắcthái, tính chất thuộc bản chất của sự vật tồn tại một cách khách quan mà conngười có thể cảm nhận được.1.1.2. Chất trữ tình trong văn họcTrước hết, để tìm hiểu khái niệm chất trữ tình, chúng ta phải đi từ kháiniệm trữ tình trong lí luận văn học. Trữ tình là thuật ngữ của lí luận văn họcđược sử dụng trước hết để chỉ một loại hình văn học nhằm phân biệt với các loạihình văn học khác như tự sự, kịch. Trữ tình là một phương thức biểu hiện chủ12quan mà dấu hiệu của nó là cảm xúc của chủ thể tự biểu hiện với nhiều sắc tháikhác nhau. Thế giới chủ quan với những suy nghĩ, đánh giá, cảm xúc thể hiệncái nhìn (quan điểm) trữ tình của chủ thể. Muốn biểu hiện được cái nhìn trữ tìnhấy trong tác phẩm, chủ thể sáng tạo phải sử dụng những phương tiện, nhữngcách thức nào đó. Phương tiện, cách thức ấy, người ta gọi là bút pháp trữ tìnhhay nghệ thuật trữ tình: “Bút pháp trữ tình là một lối thể hiện cuộc sống thôngqua sự bộc lộ tình cảm, cảm xúc của chủ thể sáng tạo” [66, 6].Nhiều học giả đã nghiên cứu về thuật ngữ trữ tình trong văn học. Hêghen,nhà triết học cổ điển Đức nhận xét: “ở trữ tình có sự trùng hợp của chủ thể vàkhách thể trong một ngôi…Ở tự sự, nhân vật tách rời tác giả, được dùng làmnội dung cho tác giả, thì nhân vật trung tâm của tác phẩm trữ tình lại chính làngười tạo ra tác phẩm, trước hết là thế giới bên trong của anh ta” [3, 346].Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân định nghĩa: “cái nhìn trữtình là sự thể hiện thái độ riêng của mình đối với thế giới xung quanh. Bởi vậy,cái tôi tự biểu hiện có vai trò đặc biệt trong trữ tình… Cái nhìn trữ tình được thểhiện chủ yếu ở các tác phẩm thơ, nhưng cũng có thể được thể hiện ở văn xuôi vàkịch nhất là khi tác giả văn xuôi muốn nói như những tuyên ngôn, định đề, hoặcnhân vật kịch độc thoại, tạo thành những đoạn tương đối độc lập” [3, 348].Như vậy, khác với chất trữ tình trong đời sống thường được quan niệm nhưmột cái gì tồn tại khách quan, chất trữ tình trong văn học là sự kết hợp thốngnhất giữa những phẩm chất của đối tượng khách quan với cảm hứng sáng tạo,cái nhìn chủ quan của nhà văn. Tính chất trữ tình được quy định bởi cái nhìn(quan điểm, điểm nhìn) trữ tình của chủ thể sáng tạo và bút pháp trữ tình đượcsử dụng như là cách thức, phương tiện biểu hiện cái nhìn trữ tình ấy trong tácphẩm.Có thể thấy các nhà nghiên cứu lí luận đều giới thuyết khái niệm trữ tìnhtrong sự đối sánh, phân biệt với tự sự và kịch. Họ cũng khẳng định một thực tếlà cái nhìn trữ tình không chỉ có ở các tác phẩm trữ tình. Ở bất kì một tác phẩmnào có cái nhìn trữ tình của chủ thể sáng tạo chi phối, có nghệ thuật trữ tìnhđược sử dụng như một phương tiện để bộc lộ thế giới chủ quan thì ở tác phẩmđó có tồn tại chất trữ tình. Nói cách khác, đó là hiện tượng giao thoa giữa các thểloại văn học. Các yếu tố tự sự có thể xâm nhập vào tác phẩm thơ, đồng thời cáctố trữ tình cũng thâm nhập vào văn xuôi tạo nên những thể tài lai ghép như thơ13tự sự – trữ tình, thơ văn xuôi, truyện ngắn trữ tình… Trong luận văn này, chúngtôi chỉ xin được đề cập đến chất trữ tình trong tác phẩm tự sự, cụ thể là truyệnngắn, từ đó cố gắng cắt nghĩa đặc điểm truyện ngắn trữ tình trên cơ sở nghiêncứu truyện ngắn nhà văn Nguyễn Ngọc Tư.1.1.3. Quan niệm về chất trữ tình của luận vănChất trữ tình là một phẩm chất được tạo ra bởi nhiều yếu tố. Không chỉ ởtác phẩm trữ tình, mà ở hầu hết thể loại khác, chất trữ tình đều có thể được tồntại, phát triển và chuyển hoá. Có thể hiểu chất trữ tình như là những yếu tố vốnlàm nên tính đặc thù của thể loại trữ tình được các thể loại khác vay mượn đểlàm giàu thêm khả năng biểu đạt, tạo nên một phẩm chất thẩm mĩ đặc biệt, mộtđặc sắc nổi trội cho thể loại đó.Các yếu tố của thể loại trữ tình được vay mượn tạo nên chất trữ tình là rấtđa dạng, từ cái nhìn trữ tình và sự ưu tiên biểu hiện tâm tình chủ quan của ngườinghệ sĩ, việc miêu tả thế giới thiên về nắm bắt những nét tinh lọc, thi vị của thếgiới khách quan, đến việc khám phá chiều sâu của đời sống nội tâm phong phú,phức tạp của con người và biểu hiện nó một cách tinh tế; từ sự tìm kiếm nhữngvẻ đẹp sâu lắng bên trong con người đến lối viết đề cao ý nghĩa ám gợi củanhững hình ảnh, tính nhạc của những câu văn… Tất cả những nhân tố ấy nếuđược thể hiện một cách hài hoà và nhất quán trong một tác phẩm thì có thể coitác phẩm ấy mang đậm chất trữ tình.Cái lõi của chất trữ tình là bộc lộ tình cảm. Nhưng tình cảm không chỉ biểuhiện trong nội dung, mà tình cảm còn phải hoá thân vào các khía cạnh hình thức.Chính vì thế, tìm hiểu chất trữ tình trong một tác phẩm, chúng ta phải khảo sáttrên rất nhiều phương diện để thấy sự xuyên thấm, hoà quyện giữa các yếu tố đóđã tạo nên chất trữ tình như thế nào trong tác phẩm chứ không nhìn nhận theohướng cắt xẻ, nhỏ lẻ. Chất trữ tình trong một tác phẩm không phải là phép cộnggiản đơn của các yếu tố riêng lẻ.1.2. Chất trữ tình và chất thơ1.2.1. Chất thơChất thơ là một khái niệm được nói đến khá nhiều. Có thể điểm quanhững quan niệm của nhiều người cả trong lĩnh vực nghiên cứu lẫn sáng tác vềchất thơ.14Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn KhắcPhi định nghĩa: “Chất thơ là chỉ những sáng tác văn học (bằng văn xuôi hoặcvăn vần) giàu cảm xúc, nội dung cô đọng, ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhịp điệu”[18, 310]. Hà Minh Đức cho rằng: “Chất thơ là một phẩm chất tổng hợp đượctạo nên từ nhiều nhân tố. Những nhân tố này cũng có thể có trong nội dung cấutạo của các thể loại khác, nhưng ở trong thơ được biểu hiện tập trung hơn vàđược hoà hợp, liên kết một cách vững chắc để tạo nên những phẩm chất mới…Chất thơ gắn liền với những rung động và những cảm xúc trực tiếp. Thơ là ởtấm lòng nhưng cũng chính là cuộc sống, thơ gắn liền với trí tưởng tượng vàchất thơ cũng gắn liền với cái đẹp” [17]. Nói đến vị trí của chất thơ trong vănxuôi, Pauxtopxki có viết: “Văn xuôi là sợi cốt, thơ là sợi ngang. Cuộc sống đượcmiêu tả trong văn xuôi không chứa đựng chất thơ trở thành thô thiển, thành mộtthứ chủ nghĩa tự nhiên không cánh, không thúc giục, không dẫn dắt ta đi đâu cả”[42]. Nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng cũng cho rằng: “Chất thơ của văn xuôichính là sự phát hiện ra cái bên trong của đời sống nội tâm đa dạng, phong phúcủa con người” [66].Từ những ý kiến trên, chúng ta có thể hiểu chất thơ cũng là một phẩmchất của mọi loại hình tác phẩm văn học, được xem xét trên nhiều khía cạnh,nhưng chủ yếu là được xem xét trong sự đối lập với chất văn xuôi. Chất thơ thểhiện chiều sâu của thế giới nội tâm, nó có tính hướng nội. Còn chất văn xuôi cótính hướng ngoại, đó là hiện thực bề bộn, ngổn ngang của cuộc sống, có phàmtục, có thanh cao, có cái đẹp, cái xấu, có cái cao cả, cái tầm thường… Xét trênphương diện mĩ học, chất thơ được xem là cái đẹp của tâm hồn, của cuộc sốngvà cao hơn nữa là cuộc sống với một lí tưởng đẹp. Xét trên phương diện cảmhứng, chất thơ gắn liền với cảm hứng bay bổng, lãng mạn. Xét ở phương diệnngôn ngữ, chất thơ gắn liền với tính nhạc của lời văn.Tìm hiểu chất thơ trong văn xuôi tức là tìm hiểu những đặc tính đặc thùcủa thể loại thơ đã được văn xuôi tiếp nhận và chuyển hoá làm nên màu sắcthẩm mĩ riêng biệt, độc đáo cho tác phẩm văn xuôi ấy.1.2.2. Phân biệt chất thơ và chất trữ tìnhTrước hết phải khẳng định giữa chất thơ và chất trữ tình có những điểmchung. Trong lịch sử nghiên cứu, không ít người đã đồng nhất hai thuật ngữ này.Điều này xuất phát từ nguồn gốc phương diện loại hình: Thơ gắn liền với15phương thức biểu hiện trữ tình, nên nó ưu tiên cho sự bộc lộ tâm tình chủ quancủa người nghệ sĩ. Vì thế một tác phẩm giàu chất thơ, tác phẩm ấy cũng đậmyếu tố trữ tình. Chất thơ trong văn xuôi hay chất trữ tình trong một tác phẩm đềucó được từ sự hoà hợp giữa hai yếu tố khách quan và chủ quan, nghĩa là sự kếthợp thống nhất cuả những phẩm chất của đối tượng được miêu tả và cảm xúctrực tiếp chủ quan của nhà văn đối với đối tượng ấy.Mặt khác, chất thơ và chất trữ tình đều có được nhờ sự khám phá đời sốngtâm lí sâu thẳm bên trong con người với những khát vọng, mơ ước, ở chiềuhướng miêu tả thiên về nắm bắt những gì tinh tế và gợi cảm của thiên nhiên conngười và biểu hiện nó một cách ngắn gọn, cô đúc, ở sự ở sự đẽo gọt câu văn, chútrọng tính hài hoà của những yếu tố ngữ âm, từ vựng, cú pháp, ở lối kết cấu tácphẩm dựa trên sự vận động của mạch tâm trạng, ở cách xây dựng hình ảnh nhưnhững ẩn dụ đầy ám gợi…Tuy nhiên khái niệm chất trữ tình và chất thơ không hoàn toàn trùng khít.Chúng ta vẫn có thể phân biệt hai khái niệm này dựa vào một số yếu tố. Trướchết là ở nội hàm cuả hai khái niệm thơ và trữ tình. Như trên đã nói, chất thơ gắnvới cảm hứng lãng mạn bay bổng, và những gì đẹp đẽ lí tưởng, mơ mộng đượccoi là chất thơ. Còn chất trữ tình có nội hàm rộng hơn. Cảm hứng làm nên chấttrữ tình không chỉ giới hạn ở cảm xúc đối với cái đẹp, cái lí tưởng mà đó là tìnhcảm nói chung với nhiều sắc thái khác nhau phong phú hơn. Nói cách khác, chấtthơ có nghĩa hẹp hơn chất trữ tình, chỉ là một nội dung của chất trữ tình.Mặt khác, nếu như chất thơ phản ánh ấn tượng trực tiếp cái cảm giác nhẹnhàng, lãng mạn, đẹp đẽ mà tác phẩm tạo ra trong ấn tượng người đọc thì chấttrữ tình được thể hiện một cách sâu lắng hơn, kín đáo hơn, nên nhiều khi đọc tácphẩm một lần không thấy được chất trữ tình ẩn sâu trong đó.Người ta thường cảm nhận chất thơ bằng trực giác, cảm giác. Nhận diệnchất thơ trong một tác phẩm văn xuôi, người đọc nhiều khi chỉ cần có cái nhìntinh tế, nhạy cảm, giàu cảm xúc. Nhưng để nghiên cứu chất trữ tình được hìnhthành từ đâu, chúng ta không chỉ cần có sự nhạy cảm tinh tế mà cần phải bắt đầutừ những vấn đề cơ bản nhất của lí luận. Ví dụ tìm hiểu chất trữ tình trong mộtthể cụ thể là truyện ngắn cần bắt đầu từ tình huống, kết cấu, cốt truyện, nhânvật… những yếu tố được coi là then chốt, cơ bản của thể truyện ngắn. Vấn đềnày, chúng tôi sẽ nói rõ hơn ở phần sau luận văn.16Như vậy, có thể thấy chất thơ là một dạng tinh chất của chất trữ tình. Giữachúng có mối quan hệ thống nhất nhưng không hoàn toàn đồng nhất với nhau.Vì thơ là dạng tinh chất của phương thức biểu hiện trữ tình, là thể đặc trưng nhấttrong các tác phẩm trữ tình, nên một tác phẩm có chất thơ nghĩa là tác phẩm ấycó chất trữ tình, nhưng chưa hẳn tác phẩm có chất trữ tình thì sẽ có chất thơ. Tuynhiên, trong nhiều trường hợp, chúng ta thường đồng nhất hai khái niệm này màkhông phân biệt ranh giới giữa chúng. Sự phân biệt trên đây có thể cho ta thấyrõ hơn phạm vi biểu hiện của hai khái niệm chất thơ và chất trữ tình trong tácphẩm văn học.1.3. Từ chất trữ tình đến truyện ngắn trữ tìnhNhư đã nói, vấn đề trung tâm của luận văn này là khái niệm chất trữ tìnhtrong tác phẩm tự sự mà cụ thể là truyện ngắn – một vấn đề còn khá mới mẻ.Tìm chất trữ tình trong truyện ngắn chính là tìm những yếu tố vốn là đặc thù củathể loại trữ tình được truyện ngắn – một thể loại tự sự – tiếp nhận, nhằm làmphong phú thêm khả năng biểu đạt của mình. Nói cách khác, đó là tìm hiểu sựgiao thoa giữa các thể loại, một vấn đề đang được xem là một xu hướng tựnhiên, khá phổ biến trong văn học hiện đại.Truyện ngắn là một thể khá năng động, nó có thể mở rộng “lãnh địa” củamình để cho phép du nhập những yếu tố ngoại lai. Theo ý kiến của nhiều nhànghiên cứu, truyện ngắn càng ngày càng có khuynh hướng tiến gần hơn với thơ,nghĩa là có sự “cựa quậy” để vượt ra ngoài những nguyên tắc thi pháp ban đầucủa nó. Đỗ Ngọc Thạch trong bài viết Truyện ngắn – Đặc trưng thể loại chorằng: “Truyện ngắn là một dạng cấu trúc đặc biệt của thơ…Cái được gọi là thơ ởđây là chất trữ tình sâu lắng trong những trạng huống của tâm trạng nhân vật…chứ không phải là sự uốn éo cầu kì trong câu văn hay sự loè loẹt của tả cảnh”[54]. Frank O`connor (1903 – 1966 ), tác giả truyện ngắn tài ba, nhà phê bình líluận của Ailen có nói: “Thể loại gần nhất với thơ trữ tình là truyện ngắn” [41].Và K.Pauxtôpxki cũng khẳng định: “Cái chính là ở chỗ khi văn xuôi đạt tới mứchoàn thiện, toàn mĩ thì về bản chất nó đã thực sự là thơ” [54]. Còn Kuranop, nhànghiên cứu người Nga lại khẳng định: “Trong nền văn học hôm nay, chúng tachứng kiến sự xích lại gần nhau giữa thơ và văn xuôi. Sự xích lại này làm chovăn xuôi chúng ta thêm nồng ấm, run rẩy, nhiều chất hội hoạ, cô đọng hơn trongnhững ẩn dụ thấm vào từng câu từng đoạn. Việc xích lại gần với thơ làm cho17văn xuôi vừa trở nên vừa sâu sắc hơn, vừa dễ hiểu hơn. Thứ dòng chảy ngầmnày rất cần cho mọi truyện ngắn. Nó giúp cho truyện có thể ngắn gọn mà vẫnsúc tích” [62].Thực ra, sự xâm nhập của thơ vào văn xuôi có nhiều dạng. Ở đây, chúngtôi không nói đến thể thơ văn xuôi như một loại hình thơ độc lập của tư duy hiệnđại, hoặc những tác phẩm truyện được triển khai dưới hình thức thơ như truyệnthơ chẳng hạn. Chúng tôi cũng không đề cập đến những trường hợp tác phẩmvăn xuôi mà ở đó, thơ được đưa vào như một bộ phận trong cấu trúc tổng thể vàchứa đựng một giá trị thẩm mĩ nhất định. Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệprất tiêu biểu cho hình thức này. Chính việc đưa một số đoạn thơ, bài thơ vàotrong truyện làm nên một nét phong cách độc đáo trong nghệ thuật trần thuật củanhà văn này.Từ một phía khác, chúng ta có thể thấy được hiện tượng giao thoa giữa trữtình và tự sự không phải chỉ ở cấu trúc bề ngoài mà là từ “cái nhìn bên trong”.Chính sự kết hợp, trộn lẫn, xuyên thấm giữa các yếu tố hình thức và “cái nhìnbên trong” của thể loại khác nhau đã làm gia tăng khả năng biểu đạt của thể loại.Mỗi thể loại đồng thời là nó, đồng thời không chỉ là nó mà giàu có hơn bản thânnó. Tuy nhiên, sự giao thoa này ở từng hiện tượng văn học, từng tác phẩm rấtkhác nhau ở mức độ. Có sự kết hợp tạo ra thể mới như truyện ngắn trữ tình 1930- 1945 với các tên tuổi như Thạch Lam, Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh… Có sự kết hợpchỉ tạo nên một màu sắc thẩm mĩ mới, chất mới cho tác phẩm, trường hợp nhưtruyện ngắn Pauxtopxki, Nguyễn Minh Châu, Đỗ Chu, Nguyễn Quang Thiều…Luận văn của chúng tôi đề cập đến chất trữ tình trong truyện ngắn NguyễnNgọc Tư, một nhà văn trẻ của nền văn học đương đại. Qua tác phẩm của nhàvăn này, chúng tôi thử nhận diện một số đặc điểm phong cách truyện ngắnNguyễn Ngọc Tư như một biểu hiện của sự tiếp nối dòng truyện ngắn trữ tìnhtrong văn học đương đại Việt Nam.1.4. Đặc trưng của truyện ngắn trữ tình1.4.1. Quan niệm chung về truyện ngắn trữ tìnhĐã có khá nhiều tác giả nghiên cứu dòng truyện ngắn lãng mạn 19301945. Hầu hết các tác giả đều đi từ đặc điểm của truyện ngắn lãng mạn mà khaiquát thành đặc điểm chung của một loại truyện ngắn hiện đại rất giàu chất trữtình: đó là truyện ngắn trữ tình. Bùi Việt Thắng trong Lời giới thiệu Tuyển tập18truyện ngắn lãng mạn 1930 – 1945 đã khẳng định: “Các nhà văn lãng mạn trongđó có nhiều thi nhân, khi viết truyện ngắn đã tạo nên thứ văn xuôi giàu chất thơ,hay nói cách khác là kiến tạo ra loại tự sự-trữ tình… Với cái nhìn thi ca, lãngmạn, họ đã làm cho chất liệu cuộc đời và cảm xúc của tác giả đã luyện thànhmột thứ hợp kim nhuyễn từng phân tử” [57, 6]. Tác giả Lê Minh Truyên trongbài viết Cộng cảm của cái tôi trữ tình Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, ĐỗTốn đã nhận xét về đặc điểm nổi bật chung của tác giả dòng truyện ngắn trữ tìnhlà “ít đi sâu vào những vấn đề có tính chất bức xúc trực tiếp của xã hội ViệtNam… mà thường đi từ cái tôi trữ tình cá nhân, cá thể, để cảm nhận giao tiếpvới cuộc sống và xây dựng một thế giới nghệ thuật của riêng nhà văn. Có thểnói, hình tượng cuộc sống đi vào tác phẩm thông qua lăng kính chủ quan củanhà văn nhưng nhà văn đã thuộc về cuộc sống. Một cuộc sống không chỉ diễn raở bề ngoài mà là ở thế giới của những tâm hồn, những bí mật bên trong theohướng tìm vào nội tâm, cảm giác. Tất cả được thổi vào đời sống các nhân vậttrong các truyện ngắn đậm chất trữ tình” [64].Cho đến nay, công trình nghiên cứu sâu sắc và hệ thống nhất về đặc điểmcủa dòng truyện ngắn trữ tình là luận án tiến sĩ của Phạm Thị Thu Hương: Baphong cách truyện ngắn trữ tình trong văn học Việt Nam: Thạch Lam, ThanhTịnh, Hồ Dzếnh. Trong công trình này, tác giả đã kết luận về đặc điểm củatruyện ngắn trữ tình: tình huống truyện phần lớn là hồi cố, kết cấu là kết cấu hoàhợp giữa nội tâm và ngoại cảnh, không gian sóng đôi đồng hiện quá khứ – hiệntại. Phạm Thu Hương cũng nhấn mạnh sự hiện diện của chất thơ trong loạitruyện ngắn này: “Chất thơ ấy thể hiện ở việc cái tôi trữ tình bày tỏ nỗi buồn vàsự cô đơn của cuộc đời, niềm hoài nhớ dĩ vãng được lọc qua hồi tưởng, trântrọng và nâng niu cái đẹp bị đánh mất, phát hiện và đề cao vẻ đẹp của tâm hồncon người” [25, 161].Như vậy, điểm qua một số công trình nghiên cứu về dòng truyện ngắnlãng mạn 1930 – 1945, chúng ta có thể nhận diện một số đặc điểm chung củatruyện ngắn trữ tình theo quan niệm của các tác giả như sau: Đó là một loạitruyện rất giàu chất thơ, ở đó, các nhà văn có xu hướng ít khai thác những đề tàihiện thực khắc nghiệt mà chỉ chú tâm đi sâu biểu hiện thế giới cảm xúc tinhnhạy, phong phú của con người. Đằng sau những trang viết đầy cảm giác, ngôn19ngữ giàu nhạc điệu, thấp thoáng cái tôi trữ tình của nhà văn, một cái tôi giàulòng cảm thương và trắc ẩn trước những cái đẹp, những buồn đau của cuộc đời.Có thể thấy, các tác giả đã dày công nghiên cứu những đặc điểm về nộidung, nghệ thuật của dòng truyện ngắn trữ tình 1930 – 1945, chỉ ra được nhữngđóng góp của các nhà văn dòng văn học này, tuy nhiên để khái quát thành kháiniệm về truyện ngắn trữ tình nói chung như là một sản phẩm của quá trình giaothoa thể loại thì chưa thật rõ ràng và hệ thống. Mặt khác, từ những năm 30 củathế kỉ trước, cho đến nay đã là một khoảng thời gian không hề ngắn ngủi, vớinhững sự cách tân không ngừng, nhiều thế hệ nhà văn đã liên tục làm phong phúthêm những đặc trưng của thể loại truyện ngắn. Truyện ngắn trữ tình cũng khôngnằm ngoài quy luật phát triển của lịch sử văn học. Thực tế đã chứng minh, thể tàinày đã không kết thúc sự sống của nó ở những năm 40 thế kỉ trước mà cho đếnnay vẫn tồn tại với tư cách là một kiểu loại truyện ngắn đặc biệt, được rất nhiềunhà văn trẻ thời kì đương đại tiếp nối. Vì vậy, giới thuyết về đặc trưng truyệnngắn trữ tình vẫn là một công việc nên làm đối với người nghiên cứu.1.4.2. Đặc trưng của truyện ngắn trữ tìnhTrong luận văn này, chúng tôi cố gắng khái quát và đưa ra một cách hiểuvề truyện ngắn trữ tình, lấy đó là căn cứ để triển khai tìm hiểu chất trữ tình trongtruyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư.Vậy hiểu thế nào là truyện ngắn trữ tình?Trước hết phải phải khẳng định rằng, truyện ngắn trữ tình là dạng truyệnngắn mà trong đó yếu tố trữ tình nổi trội lên như một đặc sắc, tạo nên nét khácbiệt về phong cách thể loại. Ở truyện ngắn trữ tình, yếu tố trữ tình xuyên thấmvào tất cả các phương diện cơ bản nhất của nó. Mặt khác, dù có sự tham gia củacác yếu tố trữ tình nhưng truyện ngắn trữ tình về cơ bản vẫn thuộc phương thứctự sự, nghĩa là các yếu tố đặc trưng của thể loại tự sự vẫn là điều cốt lõi nhất.Như đã nói ở trên, sự xâm thực và chuyển hoá các yếu tố trữ tình vào trongtruyện ngắn làm nên chất trữ tình cho truyện, nó là một phẩm chất rất đáng quý,là một màu sắc thẩm mĩ mới của thể loại truyện ngắn, chứ không hoán cải đượcbản chất thể loại.Chất trữ tình trong một truyện ngắn nếu chỉ được thể hiện một cách nhànnhạt, bàng bạc, thì chỉ là chất xúc tác làm cho tác phẩm thi vị hơn, lãng mạnhơn. Còn nếu được thể hiện đậm đặc, hài hoà trên nhiều phương diện của truyện20ngắn sẽ làm cho truyện ngắn đó bước qua ranh giới phân xuất thể loại, trở thànhmột thể lai ghép, trung gian giữa tự sự – trữ tình rất đặc biệt: đó là truyện ngắntrữ tình. Trong truyện ngắn trữ tình, yếu tố trữ tình cần phải được “tự sự hoá”,nghĩa là nó phải ngấm vào các bình diện của hình thức tự sự. Vì thế, tìm hiểuđặc trưng của truyện ngắn trữ tình, chúng ta phải đi từ những bình diện nghệthuật cấu thành cái thực thể sinh động của nó. Nói cách khác, chúng ta phải đi từyếu tố cơ bản nhất của phương thức tự sự, cụ thể ở đây là thể loại truyện ngắn.Những yếu tố tạo nên đặc trưng thể loại truyện ngắn rất phong phú, nhưng cóthể kể đến đó là: tình huống, cốt truyện, kết cấu, nhân vật, cảnh vật, giọng điệu,ngôn ngữ…Trước hết là phương diện tình huống. Tình huống được xem là vấn đềthen chốt, là hạt nhân của cấu trúc truyện ngắn. Dựa vào tính chất của tìnhhuống, người ta phân ra ba loại truyện ngắn tương ứng với 3 dạng tình huống:truyện ngắn giàu kịch tính chứa tình huống hành động, truyện ngắn giàu triếtluận chứa tình huống nhận thức và truyện ngắn trữ tình chứa tình huống tâmtrạng. Như vậy, xét trên phương diện tình huống, diện mạo truyện ngắn trữ tìnhđược quy định bởi tình huống tâm trạng bao trùm lên toàn bộ thiên truyện. Tìnhhuống tâm trạng là một sự kiện đặc biệt của đời sống mà ở đó, nhân vật rơi vàomột tình thế làm nảy sinh một biến động nào đó trong thế giới tình cảm. Trongtruyện ngắn trữ tình, nhà văn thường ít phản ánh những xung đột lớn, gay gắtcủa xã hội mà chỉ chú ý khai thác những xung động nội tâm của con người. Nóicách khác, sự kiện cuộc sống được nhà văn tái tạo lại nhằm dựng thành tìnhhuống cho truyện ngắn trữ tình thường chỉ là cái cớ cắt nghĩa cho sự biến đổinào đó trong tâm lí nhân vật mà thôi. Truyện ngắn của Thạch Lam, Thanh Tịnh,Hồ Dzếnh thường xây dựng những tình huống tâm trạng như thế.Vì là tình huống tâm trạng, nên nhân vật tương ứng với tình huống nàythường là kiểu nhân vật: con người tình cảm. Nghĩa là kiểu nhân vật được hiệnlên chủ yếu bằng thế giới nội cảm của nó. Tác giả truyện ngắn trữ tình thườngthể hiện ngòi bút nhạy cảm tinh tế trong việc khám phá chiều sâu nội tâm củacon người và biểu hiện nó một cách tinh tế nhất. Thế giới nội tâm phức tạp, đachiều của nhân vật với những trăn trở, suy tư, niềm vui, nỗi buồn, sự say mê,lòng hoan hỉ, khát vọng, nhớ tiếc… đã được phơi bày, mổ xẻ tinh vi trong từngtrang viết. Nhà văn tạo dựng nên hình tượng nhân vật chủ yếu bằng một hệ21thống chất liệu là cảm giác, cảm xúc với các phức hợp khác nhau của chúng.Còn các khía cạnh khác (như ngoại hình, hành động, lí tính…) ít được quan tâm.Tình huống tâm trạng và kiểu nhân vật tình cảm ấy lại đem đến một hệquả tất yếu là truyện ngắn trữ tình nghiêng về kiểu kết cấu tâm lí. Tuy nhiên, kếtcấu tâm lí không phải là độc quyền của truyện ngắn trữ tình, nhưng ở loại truyệnnày, dạng kết cấu này là phổ biến. Mặt khác, kết cấu tâm lý ở truyện ngắn trữtình vẫn có đặc trưng riêng, đó là kiểu tổ chức tác phẩm men theo dòng cảmgiác, cảm xúc và những phức hợp cảm xúc, chứ không nghiêng về những suyxét, suy tưởng.Cũng do lối kết cấu tâm lí mà truyện ngắn trữ tình thường có cốt truyệnđơn giản. Nhân vật không nhiều, sự kiện được giản lược một cách tối đa. Truyệnngắn trữ tình thường không có cốt truyện li lì, éo le hay chứa những mâu thuẫnlớn lao của xã hội, của hiện thực khắc nghiệt mà chủ yếu tìm đến những đề tàinhỏ nhặt, bình dị, những câu chuyện diễn ra bình thường trong đời sống hàngngày của con người. Tác giả viết truyện ngắn trữ tình nhiều khi không phải đểkể lại một câu chuyện mà ngẫm nghĩ về một câu chuyện với ý thức tự vấn.Chính vì thế, trong truyện ngắn trữ tình, cốt truyện, cái làm nên chất tự sự, cáitạo nên bản sắc thẩm mĩ của thể loại tự sự nói chung, đã bị đẩy xuống bình diệnthứ hai. Người đọc sẽ rất khó khăn trong việc tóm tắt lại cốt truyện, vì các nhânvật sự kiện không xuất hiện với các xung đột, sự kiện theo trình tự, lớp lang mànó chỉ là những cái cớ để nhân vật bộc lộ dòng ý thức hoặc chỉ là phương tiện đểnhà văn khảo sát những xung động tình cảm của nhân vật mà thôi. Tuy nhiên, dùcốt truyện đơn giản, nhưng do nhà văn đã đạt đến chiều sâu nhân bản trong khikhai thác nội tâm nhân vật, nên truyện ngắn trữ tình vẫn thể hiện được nhữngquan niệm nhân sinh sâu sắc, giàu ý nghĩa triết học.Một phương diện thể hiện chất trữ tình trong truyện ngắn trữ tình đó làcảnh vật. Như chúng ta biết, đặc trưng của phương thức tự sự là tái hiện, miêu tảlại bức tranh cuộc sống sinh động, phong phú. Trong bức tranh ấy, có con ngườivà cả không gian cảnh vật là bối cảnh trong mối quan hệ với đời sống conngười. Có thể thấy, ở truyện ngắn trữ tình, thiên nhiên được hiện lên không chỉlà những bức tranh thiên nhiên thuần tuý với những vẻ đẹp tự nhiên của nó mà lànhững bức tâm cảnh. Nói cách khác, thiên nhiên đã trở thành “một mảng trữ tìnhvì khi nó góp phần soi sáng nội tâm của tác giả, của nhân vật thì nó hiện ra như22là sản phẩm của bức tranh trữ tình” [66, 20]. Như vậy, trong truyện ngắn trữtình, thiên nhiên là một phương thức trữ tình đặc biệt. Qua những màu sắc, hìnhdáng của cảnh vật, cả tính chất ám dụ, tượng trưng mà nó gợi ra, chúng ta cảmnhận được thái độ, tình cảm và quan điểm nhân sinh của tác giả. Nói cách khác,thiên nhiên được xây dựng như những hình ảnh ẩn dụ có sức gợi và sức ám ảnhlớn. Những ẩn dụ ấy là kết tinh của sự hoà hợp giữa nội tâm và ngoại giới, giữatả và gợi, giữa hình ảnh thực trước mắt và hình ảnh trong tâm tưởng. Truyệnngắn trữ tình rất phong phú những bức tranh thiên nhiên như thế.Giọng điệu trữ tình là yếu tố không thể thiếu trong những truyện ngắn trữtình, bởi vì nó biểu hiện cho hình tượng tác giả trong tác phẩm. Giọng điệukhông đơn giản là một tín hiệu âm thanh đặc thù để nhận ra người nói mà là mộtgiọng điệu mang nội dung tình cảm, thái độ ứng xử trước các hiện tượng đờisống. Tất cả tác phẩm văn học đều biểu hiện tư tưởng tình cảm thái độ của nhàvăn trước thế giới khách quan. Thông thường, trong tác phẩm trữ tình, tình cảmchủ quan của tác giả được thể hiện trực tiếp, còn ở tác phẩm tự sự lại được thểhiện gián tiếp qua việc miêu tả các sự kiện đời sống. Nhưng ở truyện ngắn trữtình, tình cảm của tác giả lại rất dạt dào nên dường như nó đã phô diễn thấmđượm trên từng câu chữ, và biểu hiện rõ nhất ở giọng điệu. Nhờ giọng điệu củatác phẩm, chúng ta có thể hình dung được một cái tôi tác giả thấp thoáng đằngsau mỗi trang viết. Đây là đặc trưng khá nổi bật của truyện ngắn trữ tình.Ngôn ngữ đầy chất thơ chính là điểm dễ nhận thấy nhất ở truyện ngắn trữtình. Ở truyện ngắn trữ tình, lời văn nghệ thuật rất giàu cảm xúc, đó là thứ ngônngữ thơ – văn xuôi, rất giàu hình ảnh và sức biểu hiện, có khả năng khơi gợi cảmxúc liên tưởng ở người đọc. Các yếu tố ngữ âm, từ vựng cũng được tổ chức mộtcách hài hoà, nên câu văn rất giàu nhạc điệu. Hầu hết các truyện ngắn trữ tìnhđều rất phong phú những câu văn như thế.Như vậy, ở truyện ngắn trữ tình, chất trữ tình được thể hiện trên rất nhiềubình diện, nhưng ít nhất là trên bốn bình diện căn bản: tình huống truyện, nhânvật truyện, giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật, nghĩa là từ vĩ mô đến vi mô, từhạt nhân đến chất liệu. Bốn bình diện ấy song hành và xuyên thấm vào nhau màlàm nên hình hài của truyện ngắn trữ tình.23Chương 2CHẤT TRỮ TÌNH TRONG TRUYỆN NGẮNNGUYỄN NGỌC TƯ, NHÌN TỪ TÌNH HUỐNG2.1. Giới thuyết về tình huốngTình huống là vấn đề hạt nhân, chủ chốt trong truyện ngắn. Không cótình huống thì không thể có truyện ngắn. Sự sống còn của một truyện ngắn phụthuộc vào tình huống mà tác phẩm xây dựng được.Có thể nói rằng, tình huống truyện, xét đến cùng, là một hoàn cảnh đặcbiệt của đời sống. Cụ thể hơn, tình huống là một sự kiện đặc biệt trong cuộcsống con người được nhà văn sáng tạo trong tác phẩm theo lối “lạ hoá”. Nói “lạhoá” có nghĩa là nhà văn đã làm sống dậy trong sự kiện ấy một tình thế bấtthường của quan hệ đời sống (quan hệ giữa các nhân vật tham gia vào sự kiện,hoặc giữa nhân vật với ngoại cảnh, ngoại giới). Tại sự kiện ấy, bản chất nhân vậtđược hiện hình rõ nét, đồng thời, ý đồ nghệ thuật, tư tưởng của tác giả cũngđược bộc lộ trọn vẹn.Với văn bản truyện ngắn, tình huống đóng vai trò là nhân tố tổ chức củathiên truyện. Những thành tố khác như nhân vật, bố cục, kết cấu, lời trần thuật,ngôn ngữ… đều chịu sự chi phối của tình huống. Ngược lại, tình huống đượclàm sống dậy bởi các thành tố này. Diện mạo của một truyện ngắn, xét đến cùnglà do tình huống quyết định.Với tác giả truyện ngắn, xây dựng được một tình huống đặc sắc của riêngmình được xem như thành công bước đầu rất đáng kể trong công việc sáng tạocủa nhà văn. Có được tình huống, nhà văn sẽ định hướng được những công việctiếp theo: xây dựng nhân vật, xây dựng cảnh vật, chuẩn bị ngôn ngữ, xác địnhkết cấu, cấu trúc tác phẩm… Có được một tình huống đạt yêu cầu là hứa hẹnmột tác phẩm thành công.Tình huống trong truyện ngắn thường được phân thành ba loại sau đây(dựa trên tính chất, đặc trưng của nó): Tình huống hành động, tình huống trữtình, tình huống nhận thức. Ba loại tình huống này sẽ quy định tính chất củatruyện ngắn mang chứa chúng. Ở luận văn này, chúng tôi chỉ cung cấp một quanniệm về tình huống trữ tình làm căn cứ tìm hiểu tình huống trong truyện ngắnNguyễn Ngọc Tư.24Tình huống trữ tình (còn gọi là tình huống tâm trạng) là loại sự kiện đặcbiệt của đời sống mà ở đó nhân vật bị rơi vào một tình thế làm nảy sinh một biếnđộng nào đó trong thế giới tình cảm (cảm giác hẫng hụt, tâm trạng ai oán, biphẫn…). Kiểu tình huống này dẫn đến loại nhân vật là kiểu con người tình cảm.Nhân vật được xây dựng chủ yếu bằng những cảm xúc, cảm giác, tâm trạng…Diễn biến tình huống cũng thường được tổ chức dựa theo dòng cảm giác, cảmxúc và phức hợp những cảm xúc của nhân vật. Còn những phương diện khácnhư lý trí, ngoại hình, hành động ít được nhà văn chú tâm miêu tả. Kiểu truyệnngắn trữ tình là hệ quả của loại tình huống này. Truyện ngắn Thạch Lam, HồDzếnh, Thanh Tịnh là những ví dụ tiêu biểu.2.2. Tình huống trữ tình trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc TưĐọc Nguyễn Ngọc Tư, chúng ta có thể nhận ra, truyện ngắn của nhà vănnữ đất Mũi Cà Mau này thường không phản ánh những hiện thực khắc nghiệt,nóng bỏng xô bồ mà chỉ là những câu chuyện đời thường, giản dị. Thử sức ởnhững đề tài bình dị, những câu chuyện đời thường vụn vặt, đi đâu ta cũng gặp,ở đâu ta cũng thấy, nhưng truyện ngắn của nhà văn bao giờ cũng mang lại mộtcảm giác mới mẻ, một phát hiện về những điều không xa lạ với bất cứ ai. Nhữngtrang văn của Nguyễn Ngọc Tư luôn day dứt lòng người đọc bởi những thânphận, những mảnh đời nhỏ nhoi. Trong quan niệm của Nguyễn Ngọc Tư, ngườitốt không phải bao giờ cũng được sung sướng, hạnh phúc, người tốt luôn chịuthiệt thòi, mất mát, chị nói: “tốt mà được đền đáp thì người ta đã rủ nhau đi sốngtốt hết rồi” [69]. Bởi thế, nhân vật trong tác phẩm của chị không bao giờ cóđược sự bình yên, thanh thản trong tâm hồn. Họ luôn rơi vào những tình cảnh éole, trắc trở, những tình huống đổ vỡ mà ở đó họ chỉ có thể đối diện với lòngmình với nỗi cô đơn, lẻ loi, hẫng hụt, tuyệt vọng, đau đớn, xót xa, tủi hổ…Nóicách khác, đó là những tình huống tâm trạng, tình huống trữ tình. Hạt nhân củatruyện là những tình huống tâm trạng như thế, nên truyện của Nguyễn Ngọc Tưthiên về loại truyện trữ tình.Qua việc khảo sát tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư, chúng tôi tiến hànhphân loại, quy tình huống trong truyện của Nguyễn Ngọc Tư thành một số dạngchủ yếu như sau: tình huống lưu lạc, tình huống bi kịch tình yêu, tình huống bikịch gia đình. Đây là sự phân loại một cách tương đối, căn cứ vào mức độ xuấthiện các dạng tình huống này trong tác phẩm của tác giả này. Mặt khác, có thể25

Xem thêm  Bản đồ quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 là gì?

Xem thêm: Dầu nền là gì? Tại sao nên sử dụng Dầu Nền dầu dẫn, lưu ý khi dùng

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Tin tổng hợp

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button